HT Thích Tâm Châu: Người mang tơi chữa lửa!

Ngày xưa, lúc còn bé, người viết đã từng nghe những người lớn thường nói với nhau câu: “Già đời còn mang tơi chữa lửa”.
 
Áo tơi, là một loại “áo” được “chằm” hay bện ra từ những chiếc lá tơi, lá dừa, đem phơi khô, rồi chằm, bện thành những chiếc áo tơi. Thời ấy, ở các vùng quê, vì nghèo, nên không có vật dụng gì khác, nên người dân quê đã dùng những chiếc áo tơi này, để che mưa gió trong những vụ mùa cày, cấy, gặt... Nhưng sau khi dùng, người nông phu phải đem treo ở trên cao, để trẻ con không lấy xuống được, vì nếu sơ ý, chỉ cần một đốm lửa, thì những cọng lá tơi, lá dừa sẽ bắt lửa từ chiếc áo tơi và cháy tiêu luôn hết cả thân người.
 
Chính vì thế, câu: “Già đời còn mang tơi chữa lửa”, mà các cụ thường nói, là để chỉ những tên già đời mà còn ngu. Vì quá ngu, mới mang chiếc áo tơi mà đâm đầu vào đám cháy, để cuối cùng chẳng những không chữa cháy được, mà chính mình phải bị thiêu thành tro bụi cùng đám cháy!
 
HT Thích Tâm Châu, là một trong những kẻ già đời còn mang tơi chữa lửa đó; bởi ngày nay, chuyện “tự thiêu” của TT Thích Quảng Đức, mọi sự đã quá rõ ràng, HT Thích Quảng Đức không hề “tự thiêu”, mà do người khác tưới xăng, người khác đốt chết.

 
HT Thích Tâm Châu đâu có ngu, mà không biết một người tự tử, thì chính họ phải tự cầm dây thắt và treo cổ, tự pha chế độc dược, tự bưng ly thuốc độc để uống, tự nhảy xuống sông, tự tưới xăng lên người, tự quẹt lửa tự thiêu, không hề có một kẻ khác trợ tử như trường hợp của TT Thích Quảng Đức đã bị “Khối Ấn Quang” quyết định đem ra bức tử, có tổ chức hẳn hoi, ngay giữa thanh thiên bạch nhật, trong vòng vây có tổ chức, với sự vô nhân tâm, vô cảm của hàng trăm sư sãi của “khối Ấn Quang”; không cho bất cứ ai đến gần để được cứu người !
 
Nên nhớ, ở các nước Âu-Mỹ, có rất nhiều trường hợp, những người bị bệnh nan y, khoa học đã thúc thủ, và chính bệnh nhân đã tự tay viết, và tự miệng nói ra những lời cầu xin các bác sĩ cho họ được chết. Thế nhưng, các bác sĩ không cho họ chết, vì luật pháp không cho phép.
 
Như vậy, vụ án đốt sống TT Thích Quảng Đức, nếu ở các nước Âu-Mỹ, thì “Khối Ấn Quang” phải bị đưa ra tòa án, để xét xử một cách nghiêm minh. Nhưng tiếc rằng, Chính phủ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa đã quá nhân đạo đối với tội ác!
 
HT Thích Tâm Châu có đui mù đâu, mà không thấy ngọn lửa bắt đầu cháy từ chỗ nào trên tấm nhục thân của TT Thích Quảng Đức.
 
 
 
HT Thích Tâm Châu chắc cũng là con người, lại từng “ở trong chăn”, thì làm sao không biết đến những nỗi đau đớn cùng cực của người vợ yêu, của người con trai quý của ông-bà HT Thích Quảng Đức, khi phải bị mất chồng, mất cha trong ngọn “Lửa Từ Bi”, hay là ngọn lửa cuồng vọng của “Khối Ấn Quang”!
 
HT Thích Tâm Châu, đã bao nhiêu năm “tu” đạo, đã 94 tuổi, chắc chắn phải lớn tuổi hơn cựu Đại đức Thích Huệ Nhật, thì làm sao có thể không khôn, hay là ngu hơn cựu Đại đức Thích Huệ Nhật. Nhưng dù sao, thì HT Thích Tâm Châu cũng nên đọc những dòng đã trích lại dưới đây:
 
“Cái chết tự nguyện là gì?  Những người tự thiêu cho đạo pháp:
    
 Nguyễn Huệ Nhật
 
 
   “Tôi xin giới hạn trong phạm vi hiểu biết của cá nhân mình, và những gì tôi viết sau đây cũng là một số kinh nghiệm và nhận xét của riêng tôi, sau ba lần tưởng đã chết nhưng nay tôi còn sống trong Ơn Cứu Rỗi của Thiên Chúa, nên xác tín hơn, rộng mở hơn.
 
    Người tự thiêu đầu tiên trong thời kỳ Phật giáo đấu tranh chống lại kỳ thị tôn giáo dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm là Hòa thượng Thích Quảng Đức. Ngài là một vị tu sĩ bán thế xuất gia, nghĩa là có vợ con trước khi đi tu. Con ruột ngài cũng là đệ tử nổi tiếng của ngài sau khi ngài hy sinh. Ngài chỉ nổi tiếng sau khi hy sinh.
 
   Cũng như tất cả các vị thánh tăng đã nối tiếp tự thiêu cho Đạo Pháp, bản thân Hòa Thượng Thích Quảng Đức không hề biết rằng kết quả tốt do sự hy sinh của ngài chỉ là nhất thời  từ 1-11-1963, còn hậu quả xấu do sự hy sinh của ngài là lâu dài từ mùa hè 1966 đến nay. Vì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Phật giáo Việt Nam chỉ thắng thế nhất thời, để rồi càng bị CSVN lợi dụng sâu sắc hơn, và đưa những cuộc đấu tranh kế tiếp đến ngày 30-4-1975, cho cộng sản Việt Nam lên cướp chính quyền.
 
    Nhìn lại quá trình, chỉ hai năm đầu sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Hội Phật Học VN đã trở thành GHPGVNTN nổi như cồn, nhưng đó là thời gian manh nha đưa GHPGVNTN đến tình trạng suy đồi và phân rẽ ngay trên đỉnh cao thế lực của họ. Năm 1966, GHPGVNTN chia rẽ thảm khốc giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Chưa bao giờ lịch sử Phật giáo Việt Nam có sự căm thù nhau, phân rẽ nhau tệ hại như thế. Vụ đem bàn thờ Phật ra đường để đấu tranh trong mùa hè 1966, là một bằng chứng suy tàn nhất của tinh thần và tổ chức Phật giáo Việt Nam. Nếu tôi kể ra những bất đồng của các vị lãnh đạo PG trong vụ Đem Phật Ra Đường, thì rất phiền. Những cuộc tranh giành đẫm máu trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự cho đến nay vẫn còn giữ kín, trừ vụ kéo sập dãy nhà do Đại đức Thích Đức Nghiệp xây lên sát lề đường Trần Quốc Toản là không thể dấu diếm được. Tôi ngẫm nghĩ Thượng tọa Thích Trí Quang chỉ là một mẹ mìn rất đắc lực của cộng sản Bắc Việt. Ông bắt cóc niềm tin của đa số Phật tử, để biến họ thành phương tiện hữu hiệu nhất cho cộng sản Bắc Việt vào xâm chiếm miền Nam, và ông đã cho cộng sản Bắc Việt vắt chanh bỏ vỏ tất cả nhân, tài, vật lực do niềm tin ấy mà có. Khi công việc bắt cóc ấy hoàn thành, mẹ mìn Thích Trí Quang ngồi im lặng rung đùi và được cộng sản Việt Nam bảo vệ kỹ, không ai dám động một sợi lông chân của ông.
 
    Tôi tin chắc rằng Hòa thượng Thích Quảng Đức đã không hình dung nổi hậu quả tang thương về sau nầy, đối với Phật giáo nói riêng, và dân tộc nói chung, qua sự hy sinh của ngài. Chính người con trai ruột của ngài, người đã trở thành một vị Thượng tọa ni tiếng tại ngôi chùa của ngài để lại trên đường Trương Minh Giảng, đã sống ba chìm bảy nổi mang nhiều tăm tiếng và cũng bị tù đày trong chế độ cộng sản.
 
     Lần tự thiêu thứ nhất tại Sài Gòn là lần tôi hoàn toàn chờ đợi theo sự sắp xếp và tổ chức của Ủy Ban Liên Phái, nhưng không thực hiện được, vì tình hình sao đó.
 
     Một người khác là thầy Lưu Bổn đệ tử của Hòa Thượng T.M.H chùa TL, Huế, cũng đã nhảy xuống giếng sâu tự tử tại chùa Phật giáo Đà Nẵng, vào mùa hè 1972, sau khi bị nghi ngờ một chuyện xấu. Mười lăm phút trước khi nhảy xuống giếng, thầy Lưu Bổn ngồi ăn trưa với tôi một cách lặng lẽ.
 
   Một người bạn khác của tôi tên T. An, cũng đi tu ở chùa Phổ Đà tại Đà Nẵng, ông mở một trường Bồ Đề ở gần ga xe lửa Đà Nẵng, cũng đã tự thiêu vì một chuyện riêng, nhưng sau đó được dư luận báo chí cho là tự thiêu vì ý nghĩa lớn lao khác. Trong thế giới tôn giáo đã lâm lụy vào những cơ mưu chính trị thời Việt Nam Cộng Hòa, một vài trường hợp các tu sĩ tự tử bằng cách tự thiêu đã được gán cho những ý nghĩa cao cả “Ý nghĩa cao cả” ấy được áp đặt cho mục đích khác, mà người tự thiêu không đặt ra, nhưng sau cùng những người bà con của họ cũng được hưởng tiếng thơm “Thánh Tử Đạo”. Cũng có nhiều vụ tự thiêu do ý định tự tử để giải quyết chuyện riêng, nhưng khi thực hiện, họ lại nêu lý do thiêng liêng để che đậy chuyện bậy bạ. Hoặc là người tự tử bằng cách tự thiêu xong rồi, sau đó mới được gán cho một ý nghĩa thiêng liêng. Thời đó, nhiều vụ tự thiêu đã bị lạm dụng. Người tình nguyện tự thiêu thì đông, nhưng người đáng được chấp nhận thì ít. Vì một người có đời sống không sáng sủa, nếu được chấp nhận cho tự thiêu, sẽ có nguy cơ làm mất niềm tin của nhiều người khác. Tất cả những người tình nguyện tự thiêu đều là những người không sáng giá khi còn sống. Những người sáng giá nghĩ rằng mình cần sống để làm việc có kết quả hơn.
 
   Những người nêu trên đều quen thân với tôi, nên tôi biết một số lý do tại sao họ đã tự thiêu. Giống như những người thất tình, những thí sinh thi rớt, những đứa con giận cha mẹ, những người bị thất bại làm ăn … Họ không còn thiết sống nữa. Họ tìm đến cái chết để trốn chạy một thực tại bất đắc chí bằng cái chết tự sát”.
 
Trên đây, là những điều đã được cựu đại đức Thích Huệ Nhật viết ra, có những điều mà nếu ai chưa được biết, thì bây giờ nên biết về TH Thích Quảng Đức. Không phải những người cứ 94, hay 100 tuổi nói ra, là nói đúng với sự thật.
 
HT Thích Tâm châu có biết tại sao, ngày xưa, vào năm 1966, chính HT Tâm Châu đã từng “mang tiếng” là nhận năm mươi triệu đồng của cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, để HT không ủng hộ Thích Trí Quang trong cuộc bạo loạn, để thành lập “Chính phủ miền Trung” trong khi điều này chỉ có cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và HT Tâm Châu biết. Vậy thì, ai là người đã đưa tin này ra cho người khác biết ?
 
Những điều này, có rất ít người biết, cũng như trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung, mùa Hè 1966. Đặc biệt, tại thành phố Đà Nẵng, người ta cũng đã từng biết cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã chi ra hai mươi triệu đồng, để ly gián hệ phái Việt Nam Quốc Dân Đảng do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo và VNQDĐ Kỳ Bộ Trung Việt do ông Nguyễn Đình Lương lãnh đạo. Nhưng rồi cuối cùng, “Khối Ấn Quang” đã bắt hết các cán bộ của VNQDĐ của cả hai hệ phái đem giam bốn mươi ngày trong chùa Phổ Đà, tức Phật học Viện Trung Phần, ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, là nơi được đặt “Tổng hành dinh Quân đoàn Vạn Hạnh”, tức “Quân đoàn cách mạng Trần Hưng Đạo”, do Thích Minh Chiếu, với cái chức Thiếu tá Tuyên úy Phật giáo Vùng I chiến thuật, đệ tử ruột của Thích Đôn Hậu: Chánh đại diện miền Vạn Hạnh, tức miền Trung, làm “Tư lệnh”.
 
Ngoài ra, còn một vụ án bí mật khác, khi cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã hẹn gặp cựu Tướng Nguyễn Chánh Thi tại Chu Lai; và khi Nguyễn Chánh Thi từ Sài Gòn ra Chu Lai ngồi đợi, nhưng Tướng Nguyễn Cao Kỳ không bao giờ đến. Rồi sau đó, là vụ ám sát, để giết chết một thư ký riêng của Thích Trí Quang, là nhà báo Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, người đã từng bị ở tù tại lao Thừa Phủ, Huế, 1956, vì tội hoạt động cho Cộng sản
 
HT Thích Tâm Châu nói: “tôi 94 tuổi, nhưng còn minh mẫn”, thì hãy cố nhớ lại vào thời gian của năm 1966, để suy nghĩ, để hiểu những việc làm của cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ… Còn bây giờ, HT Thích Tâm Châu đã  trót “Về Nguồn” rồi, thì không có con đường nào để trở ra biển trời mênh mông như ngày xưa được nữa. Thôi thì chính HT Thích Tâm Châu đã muốn “tự thiêu” thì hãy để cho ông ta “chết cháy” ra tro luôn, nên chẳng cần phải nhắc đến Thích Tâm Châu làm gì, khi một con người, vì những lý do nào đó… mà đã tự đốt cháy hết tất cả thanh danh của mình rồi !
 
“Đốn củi mười năm, thiêu chỉ một giờ” hay “Già đời còn mang tơi chữa lửa”. Cả hai câu này, đều hoàn toàn đúng với chính con người thật của HT Thích Tâm Châu là vậy.
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

HT Thích Tâm Châu: Người mang tơi chữa lửa!

Ngày xưa, lúc còn bé, người viết đã từng nghe những người lớn thường nói với nhau câu: “Già đời còn mang tơi chữa lửa”.
 
Áo tơi, là một loại “áo” được “chằm” hay bện ra từ những chiếc lá tơi, lá dừa, đem phơi khô, rồi chằm, bện thành những chiếc áo tơi. Thời ấy, ở các vùng quê, vì nghèo, nên không có vật dụng gì khác, nên người dân quê đã dùng những chiếc áo tơi này, để che mưa gió trong những vụ mùa cày, cấy, gặt... Nhưng sau khi dùng, người nông phu phải đem treo ở trên cao, để trẻ con không lấy xuống được, vì nếu sơ ý, chỉ cần một đốm lửa, thì những cọng lá tơi, lá dừa sẽ bắt lửa từ chiếc áo tơi và cháy tiêu luôn hết cả thân người.
 
Chính vì thế, câu: “Già đời còn mang tơi chữa lửa”, mà các cụ thường nói, là để chỉ những tên già đời mà còn ngu. Vì quá ngu, mới mang chiếc áo tơi mà đâm đầu vào đám cháy, để cuối cùng chẳng những không chữa cháy được, mà chính mình phải bị thiêu thành tro bụi cùng đám cháy!
 
HT Thích Tâm Châu, là một trong những kẻ già đời còn mang tơi chữa lửa đó; bởi ngày nay, chuyện “tự thiêu” của TT Thích Quảng Đức, mọi sự đã quá rõ ràng, HT Thích Quảng Đức không hề “tự thiêu”, mà do người khác tưới xăng, người khác đốt chết.

 
HT Thích Tâm Châu đâu có ngu, mà không biết một người tự tử, thì chính họ phải tự cầm dây thắt và treo cổ, tự pha chế độc dược, tự bưng ly thuốc độc để uống, tự nhảy xuống sông, tự tưới xăng lên người, tự quẹt lửa tự thiêu, không hề có một kẻ khác trợ tử như trường hợp của TT Thích Quảng Đức đã bị “Khối Ấn Quang” quyết định đem ra bức tử, có tổ chức hẳn hoi, ngay giữa thanh thiên bạch nhật, trong vòng vây có tổ chức, với sự vô nhân tâm, vô cảm của hàng trăm sư sãi của “khối Ấn Quang”; không cho bất cứ ai đến gần để được cứu người !
 
Nên nhớ, ở các nước Âu-Mỹ, có rất nhiều trường hợp, những người bị bệnh nan y, khoa học đã thúc thủ, và chính bệnh nhân đã tự tay viết, và tự miệng nói ra những lời cầu xin các bác sĩ cho họ được chết. Thế nhưng, các bác sĩ không cho họ chết, vì luật pháp không cho phép.
 
Như vậy, vụ án đốt sống TT Thích Quảng Đức, nếu ở các nước Âu-Mỹ, thì “Khối Ấn Quang” phải bị đưa ra tòa án, để xét xử một cách nghiêm minh. Nhưng tiếc rằng, Chính phủ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa đã quá nhân đạo đối với tội ác!
 
HT Thích Tâm Châu có đui mù đâu, mà không thấy ngọn lửa bắt đầu cháy từ chỗ nào trên tấm nhục thân của TT Thích Quảng Đức.
 
 
 
HT Thích Tâm Châu chắc cũng là con người, lại từng “ở trong chăn”, thì làm sao không biết đến những nỗi đau đớn cùng cực của người vợ yêu, của người con trai quý của ông-bà HT Thích Quảng Đức, khi phải bị mất chồng, mất cha trong ngọn “Lửa Từ Bi”, hay là ngọn lửa cuồng vọng của “Khối Ấn Quang”!
 
HT Thích Tâm Châu, đã bao nhiêu năm “tu” đạo, đã 94 tuổi, chắc chắn phải lớn tuổi hơn cựu Đại đức Thích Huệ Nhật, thì làm sao có thể không khôn, hay là ngu hơn cựu Đại đức Thích Huệ Nhật. Nhưng dù sao, thì HT Thích Tâm Châu cũng nên đọc những dòng đã trích lại dưới đây:
 
“Cái chết tự nguyện là gì?  Những người tự thiêu cho đạo pháp:
    
 Nguyễn Huệ Nhật
 
 
   “Tôi xin giới hạn trong phạm vi hiểu biết của cá nhân mình, và những gì tôi viết sau đây cũng là một số kinh nghiệm và nhận xét của riêng tôi, sau ba lần tưởng đã chết nhưng nay tôi còn sống trong Ơn Cứu Rỗi của Thiên Chúa, nên xác tín hơn, rộng mở hơn.
 
    Người tự thiêu đầu tiên trong thời kỳ Phật giáo đấu tranh chống lại kỳ thị tôn giáo dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm là Hòa thượng Thích Quảng Đức. Ngài là một vị tu sĩ bán thế xuất gia, nghĩa là có vợ con trước khi đi tu. Con ruột ngài cũng là đệ tử nổi tiếng của ngài sau khi ngài hy sinh. Ngài chỉ nổi tiếng sau khi hy sinh.
 
   Cũng như tất cả các vị thánh tăng đã nối tiếp tự thiêu cho Đạo Pháp, bản thân Hòa Thượng Thích Quảng Đức không hề biết rằng kết quả tốt do sự hy sinh của ngài chỉ là nhất thời  từ 1-11-1963, còn hậu quả xấu do sự hy sinh của ngài là lâu dài từ mùa hè 1966 đến nay. Vì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Phật giáo Việt Nam chỉ thắng thế nhất thời, để rồi càng bị CSVN lợi dụng sâu sắc hơn, và đưa những cuộc đấu tranh kế tiếp đến ngày 30-4-1975, cho cộng sản Việt Nam lên cướp chính quyền.
 
    Nhìn lại quá trình, chỉ hai năm đầu sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Hội Phật Học VN đã trở thành GHPGVNTN nổi như cồn, nhưng đó là thời gian manh nha đưa GHPGVNTN đến tình trạng suy đồi và phân rẽ ngay trên đỉnh cao thế lực của họ. Năm 1966, GHPGVNTN chia rẽ thảm khốc giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Chưa bao giờ lịch sử Phật giáo Việt Nam có sự căm thù nhau, phân rẽ nhau tệ hại như thế. Vụ đem bàn thờ Phật ra đường để đấu tranh trong mùa hè 1966, là một bằng chứng suy tàn nhất của tinh thần và tổ chức Phật giáo Việt Nam. Nếu tôi kể ra những bất đồng của các vị lãnh đạo PG trong vụ Đem Phật Ra Đường, thì rất phiền. Những cuộc tranh giành đẫm máu trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự cho đến nay vẫn còn giữ kín, trừ vụ kéo sập dãy nhà do Đại đức Thích Đức Nghiệp xây lên sát lề đường Trần Quốc Toản là không thể dấu diếm được. Tôi ngẫm nghĩ Thượng tọa Thích Trí Quang chỉ là một mẹ mìn rất đắc lực của cộng sản Bắc Việt. Ông bắt cóc niềm tin của đa số Phật tử, để biến họ thành phương tiện hữu hiệu nhất cho cộng sản Bắc Việt vào xâm chiếm miền Nam, và ông đã cho cộng sản Bắc Việt vắt chanh bỏ vỏ tất cả nhân, tài, vật lực do niềm tin ấy mà có. Khi công việc bắt cóc ấy hoàn thành, mẹ mìn Thích Trí Quang ngồi im lặng rung đùi và được cộng sản Việt Nam bảo vệ kỹ, không ai dám động một sợi lông chân của ông.
 
    Tôi tin chắc rằng Hòa thượng Thích Quảng Đức đã không hình dung nổi hậu quả tang thương về sau nầy, đối với Phật giáo nói riêng, và dân tộc nói chung, qua sự hy sinh của ngài. Chính người con trai ruột của ngài, người đã trở thành một vị Thượng tọa ni tiếng tại ngôi chùa của ngài để lại trên đường Trương Minh Giảng, đã sống ba chìm bảy nổi mang nhiều tăm tiếng và cũng bị tù đày trong chế độ cộng sản.
 
     Lần tự thiêu thứ nhất tại Sài Gòn là lần tôi hoàn toàn chờ đợi theo sự sắp xếp và tổ chức của Ủy Ban Liên Phái, nhưng không thực hiện được, vì tình hình sao đó.
 
     Một người khác là thầy Lưu Bổn đệ tử của Hòa Thượng T.M.H chùa TL, Huế, cũng đã nhảy xuống giếng sâu tự tử tại chùa Phật giáo Đà Nẵng, vào mùa hè 1972, sau khi bị nghi ngờ một chuyện xấu. Mười lăm phút trước khi nhảy xuống giếng, thầy Lưu Bổn ngồi ăn trưa với tôi một cách lặng lẽ.
 
   Một người bạn khác của tôi tên T. An, cũng đi tu ở chùa Phổ Đà tại Đà Nẵng, ông mở một trường Bồ Đề ở gần ga xe lửa Đà Nẵng, cũng đã tự thiêu vì một chuyện riêng, nhưng sau đó được dư luận báo chí cho là tự thiêu vì ý nghĩa lớn lao khác. Trong thế giới tôn giáo đã lâm lụy vào những cơ mưu chính trị thời Việt Nam Cộng Hòa, một vài trường hợp các tu sĩ tự tử bằng cách tự thiêu đã được gán cho những ý nghĩa cao cả “Ý nghĩa cao cả” ấy được áp đặt cho mục đích khác, mà người tự thiêu không đặt ra, nhưng sau cùng những người bà con của họ cũng được hưởng tiếng thơm “Thánh Tử Đạo”. Cũng có nhiều vụ tự thiêu do ý định tự tử để giải quyết chuyện riêng, nhưng khi thực hiện, họ lại nêu lý do thiêng liêng để che đậy chuyện bậy bạ. Hoặc là người tự tử bằng cách tự thiêu xong rồi, sau đó mới được gán cho một ý nghĩa thiêng liêng. Thời đó, nhiều vụ tự thiêu đã bị lạm dụng. Người tình nguyện tự thiêu thì đông, nhưng người đáng được chấp nhận thì ít. Vì một người có đời sống không sáng sủa, nếu được chấp nhận cho tự thiêu, sẽ có nguy cơ làm mất niềm tin của nhiều người khác. Tất cả những người tình nguyện tự thiêu đều là những người không sáng giá khi còn sống. Những người sáng giá nghĩ rằng mình cần sống để làm việc có kết quả hơn.
 
   Những người nêu trên đều quen thân với tôi, nên tôi biết một số lý do tại sao họ đã tự thiêu. Giống như những người thất tình, những thí sinh thi rớt, những đứa con giận cha mẹ, những người bị thất bại làm ăn … Họ không còn thiết sống nữa. Họ tìm đến cái chết để trốn chạy một thực tại bất đắc chí bằng cái chết tự sát”.
 
Trên đây, là những điều đã được cựu đại đức Thích Huệ Nhật viết ra, có những điều mà nếu ai chưa được biết, thì bây giờ nên biết về TH Thích Quảng Đức. Không phải những người cứ 94, hay 100 tuổi nói ra, là nói đúng với sự thật.
 
HT Thích Tâm châu có biết tại sao, ngày xưa, vào năm 1966, chính HT Tâm Châu đã từng “mang tiếng” là nhận năm mươi triệu đồng của cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, để HT không ủng hộ Thích Trí Quang trong cuộc bạo loạn, để thành lập “Chính phủ miền Trung” trong khi điều này chỉ có cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và HT Tâm Châu biết. Vậy thì, ai là người đã đưa tin này ra cho người khác biết ?
 
Những điều này, có rất ít người biết, cũng như trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung, mùa Hè 1966. Đặc biệt, tại thành phố Đà Nẵng, người ta cũng đã từng biết cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã chi ra hai mươi triệu đồng, để ly gián hệ phái Việt Nam Quốc Dân Đảng do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo và VNQDĐ Kỳ Bộ Trung Việt do ông Nguyễn Đình Lương lãnh đạo. Nhưng rồi cuối cùng, “Khối Ấn Quang” đã bắt hết các cán bộ của VNQDĐ của cả hai hệ phái đem giam bốn mươi ngày trong chùa Phổ Đà, tức Phật học Viện Trung Phần, ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, là nơi được đặt “Tổng hành dinh Quân đoàn Vạn Hạnh”, tức “Quân đoàn cách mạng Trần Hưng Đạo”, do Thích Minh Chiếu, với cái chức Thiếu tá Tuyên úy Phật giáo Vùng I chiến thuật, đệ tử ruột của Thích Đôn Hậu: Chánh đại diện miền Vạn Hạnh, tức miền Trung, làm “Tư lệnh”.
 
Ngoài ra, còn một vụ án bí mật khác, khi cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã hẹn gặp cựu Tướng Nguyễn Chánh Thi tại Chu Lai; và khi Nguyễn Chánh Thi từ Sài Gòn ra Chu Lai ngồi đợi, nhưng Tướng Nguyễn Cao Kỳ không bao giờ đến. Rồi sau đó, là vụ ám sát, để giết chết một thư ký riêng của Thích Trí Quang, là nhà báo Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, người đã từng bị ở tù tại lao Thừa Phủ, Huế, 1956, vì tội hoạt động cho Cộng sản
 
HT Thích Tâm Châu nói: “tôi 94 tuổi, nhưng còn minh mẫn”, thì hãy cố nhớ lại vào thời gian của năm 1966, để suy nghĩ, để hiểu những việc làm của cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ… Còn bây giờ, HT Thích Tâm Châu đã  trót “Về Nguồn” rồi, thì không có con đường nào để trở ra biển trời mênh mông như ngày xưa được nữa. Thôi thì chính HT Thích Tâm Châu đã muốn “tự thiêu” thì hãy để cho ông ta “chết cháy” ra tro luôn, nên chẳng cần phải nhắc đến Thích Tâm Châu làm gì, khi một con người, vì những lý do nào đó… mà đã tự đốt cháy hết tất cả thanh danh của mình rồi !
 
“Đốn củi mười năm, thiêu chỉ một giờ” hay “Già đời còn mang tơi chữa lửa”. Cả hai câu này, đều hoàn toàn đúng với chính con người thật của HT Thích Tâm Châu là vậy.
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT LÀ PHÁP NẠN CỦA PHẬT GIÁO

LIÊN THÀNH: PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT LÀ PHÁP NẠN CỦA PHẬT GIÁO

Khối Kỹ Thuật
Kính quý vị - Đúng như dự đoán của Khối Kỹ Thuật vào ngày 3/9 (*) rằng việc từ chức của Thích Quảng Độ là một màn kịch có tính toán của đạo diễn Võ Văn Ái: Thích Quảng Độ sẽ trở lại sau khi có phái đoàn thuộc hạ thăm viếng và có thỉnh nguyện thư yêu cầu. Thông cáo ngày 4/9 của Võ Văn Ái đã xác nhận mọi chuyện xảy ra y hệt như vậy.

Kính quý Phật tử - Đa số Phật tử không biết họ tin lầm thầy tà. Xin Phật tử đừng nhìn vào chiếc áo càsa mà nghĩ đó là thầy tu chân chính. Một thầy tu còn bận lòng với tham, sân, si và còn để tâm tranh giành, thủ đoạn với nhau thì không thể nào là một thầy tu chân chính. Hãy đọc kinh niệm Phật tại gia hoặc đi chùa lạy Phật là đủ. GHPGVNTN không phải là chân tu theo Phật pháp bởi nơi đó còn có sự tranh giành chức tước, tiền bạc, tài sản, thủ đoạn, tuyên truyền, giáo điều tẩy não, và tôn sùng thần tượng. Phật ở tại chánh tâm của Phật tử mà thôi.

Sau đây, Khối Kỹ Thuật xin kính chuyển đến quý vị Bức thư của Phật tử Liên Thành gởi Ông Thích Quảng Độ, Nguyên Đệ Ngũ Tăng Thống của GHPGVNTN vào ngày 4/9 để rộng đường dư luận.

BẢN PHÚC TRÌNH ĐẶC BIỆT CỦA UBTTTADCSVN KÍNH GỞI ĐẾN ĐỒNG BÀO PHẬT TỬ VIỆT NAM TẠI HẢI NGOẠI

BẢN PHÚC TRÌNH ĐẶC BIỆT CỦA UBTTTADCSVN KÍNH GỞI ĐẾN ĐỒNG BÀO PHẬT TỬ VIỆT NAM TẠI HẢI NGOẠI

Quý đồng bào có thể download Bản Phúc Trình ở các links:
___________________________________

V/v: Báo động khẩn Thời mạt pháp của Phật giáo đang thị hiện qua hàng loạt hoạt động của tăng ni tại hải ngoại:

1. Sự tinh vi trong kỹ thuật quyên tiền của Phật tử.
2. Sự tinh vi trong việc tiếm đoạt quyền sở hữu tài sản chung của cộng đồng.
3. Sự gian lận thuế trên hàng triệu dollars hiến tặng và hoạt động rửa tiền.
4. Sự lợi dụng luật pháp trong việc gài gián điệp cộng sản vào cộng đồng.

Liên Thành 



Little Saigon, Nam Cali
Ngày 19 tháng 9 năm 2013

Kính thưa đồng bào,

Từ kinh nghiệm và sự hiểu biết của hơn 9 năm thi hành công vụ và bảo vệ Luật Pháp Việt Nam Cộng Hòa tại Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế trước 1975, và từ những chứng cớ tài liệu của anh chị em Khối Kỹ Thuật đã nỗ lực ngày đêm truy tầm, hôm nay tôi xin trình bày với đồng bào một số vấn đề đang ở mức độ báo động. Bản phúc trình tâm huyết này sẽ phân tích về thời mạt pháp của Phật giáo đang thị hiện qua hàng loạt hoạt động của tăng ni tại hải ngoại. Bản phúc trình sẽ tập trung vào bốn vấn đề quan trọng như sau: Sự tinh vi trong kỹ thuật quyên tiền của Phật tử, sự tinh vi trong việc tiếm đoạt quyền sở hữu tài sản chung của cộng đồng, sự gian lận thuế trên hàng triệu dollars hiến tặng và hoạt động rửa tiền, và sự lợi dụng luật pháp trong việc cài gián điệp cộng sản vào cộng đồng.

Nói về giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) thì tổ chức này lần đầu tiên được thành lập vào năm 1964 bởi Thích Trí Quang và hoạt động dựa vào hiến chương của Thích Trí Quang soạn thảo. Sau những cuộc bất đồng trong nội bộ thì GHPGVNTN chẻ ra nhiều giáo hội nhỏ. Đến hôm nay tại hải ngoại, GHPGVNTN được tổ chức và điều hành như sau:

1)- Giáo hội PGVNTN của Thích Quảng Độ có Văn Phòng II tại Hải Ngoại. Trụ sở của văn phòng nầy đặt tại Chùa Điều Ngự Nam Cali do Thích Viên Lý điều hành. Ngoài văn phòng nầy ra, Thích Quảng Độ còn có một văn phòng đại diện đặt tại Paris Pháp Quốc gọi là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế - Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo. Văn phòng nầy do Võ Văn Ái điều hành. Võ Văn Ái cũng là người đại diện cho Thích Quảng Độ tại hải ngoại. 

2)- Giáo hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới (GHPGVNTTG) của Thích Tâm Châu có người đại diện tại Hoa Kỳ là Thích Quảng Thanh, Chùa Bảo Quang Nam Cali, và Thích Chơn Thành, Chùa Liên Hoa Nam Cali.

3)- Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ, Úc Châu, Âu Châu… (còn gọi là giáo hội Về Nguồn hay nhóm Về Nguồn) có đại diện là Thích Nguyên Trí, Chùa Bát Nhã Nam Cali.

4)- Giáo hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN hay còn gọi là Phật Giáo Quốc Doanh) rất mạnh nhưng vô hình. GHPGVN là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam, và hoạt động chính trị dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Chúng gài các tăng và ni quốc doanh đã được chúng đào tạo tại Việt Nam vào trong các chùa của các tổ chức Phật Giáo tại hải ngoại nói trên.

Tứ trụ triều đình PGVNTN là bốn thằng việt gian

TỨ TRỤ TRONG TRIỀU ĐÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT LÀ BỐN TÊN CỘNG SẢN 

THÍCH TRÍ QUANG - THÍCH MINH CHÂU - THÍCH ĐÔN HẬU - THÍCH THIỆN SIÊU

___________________________

THÍCH TRÍ QUANG
Thích Trí Quang, Thích Hộ Giác... thách thức sẽ tiếp tục kích động tín đồ biểu tình.
Thích Trí Quang sanh năm 1922, tại làng Diêm Điền, thị xã Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình. Vì là nơi nghèo khổ truyền kiếp, nên dân làng Diêm Điền có tính bảo thủ, rất cực đoan, và hết sức quá khích. Thượng tọa (TT) Trí Quang đã xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ và Trí Quang là người anh cả của 3 người em trai. Thuở nhỏ, TT Trí Quang đã được cha mẹ đặt tên cho là Phạm Văn Bồng. Phạm Văn Bồng và người em kế đã phải sớm nương thân cửa Phật để kiếm miếng ăn, họ qui y với Hòa Thượng Phổ Minh, trụ trì ở Đồng Đình. Về sau bốn anh em nhà họ Phạm đã được Hòa Thượng Phổ Minh dùng bốn chữ: Quang, Minh, Chính, Đại, để cải danh cho. Vì thế Phạm Văn Bồng đã cải danh thành Phạm Quang, sau trở thành Thích Trí Quang. Còn ba người em tên là: Phạm Minh, Phạm Chánh, và Phạm Đại.
Nhờ nương thân nơi cửa Phật, nên hai anh em Phạm Quang (Trí Quang) và Phạm Minh đã được học hành chút đỉnh, khoảng lớp Ba tiểu học. Còn hai em là Phạm Chánh và Phạm Đại đều chịu cảnh thất học. Phạm Minh đã sớm rời bỏ lớp áo tu hành, tham gia kháng chiến. Nhờ có chút đỉnh chữ nghĩa nên Phạm Minh đã được phục vụ trong Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Xã tại địa phương. Còn hai người em, tên Phạm Chánh và Phạm Đại thì xung vào Bộ Đội. Chẳng bao lâu sau, Phạm Chánh được kháng chiến quân phong làm Tiểu Đội Trưởng Dân Quân Du Kích. Nhưng đến ngày 4.6.1947, Phạm Chánh đã bị lính Pháp phục kích bắn chết tại Đức Phổ, thuộc phía Tây thành phố Đồng Hới. Lúc bấy giờ Phạm Chánh mới 21 tuổi. Còn người em út tên Phạm Đại làm điều dưỡng viên trong Bộ Đội CSBV vẫn còn sống cho đến năm 1954, khi chia cắt đất nước. 
TRÍ QUANG BỊ BẮT
Ở Đồng Hới, thuở ấy ai cũng biết Hòa thượng (HT) Phổ Minh là một vị cao tăng, đức độ. Ngài đã có gia đình rồi mới đi tu. Nhưng ngài chỉ thông thạo Hán Văn, và biết chút đỉnh chữ Quốc Ngữ, chớ không am tường Tây học. Khoảng năm 1934, bác sĩ Lê Đình Thám đã cùng với Thượng Tọa Thích Mật Thể lập ra trường An Nam Phật Học ở Huế, nhắm mục đích đào tạo tăng sĩ. Năm 1942, lúc đó Trí Quang vừa tròn 20 tuổi, đã được tuyển vào học tại trường này, và thọ giáo với Hòa Thượng Thích Trí Độ, giám đốc trường. Năm sau, 1943, Trí Quang tốt nghiệp khóa Phật Học Trung Cấp.
Hòa Thượng Thích Trí Độ đã gia nhập đảng CSVN từ năm 1941, lúc đảng này còn hoạt động trong bóng tối. Đến năm 1945, sau khi Việt Minh (VM) cướp chánh quyền, HT Thích Trí Độ được CSVN cử giữ chức chủ tịch trung ương Giáo Hội Phật Giáo Cứu Quốc (PGCQ). Vì thế HT Trí Độ đã kéo một số tăng sĩ theo CS, trong đó có Thích Thiện Minh, làm chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Trị... Về phần Trí Quang, khi CSVM tuyên bố “toàn quốc kháng chiến”, và ra lịnh cho quần chúng phải tản cư khỏi các đô thị lớn như: Hà Nội, Huế và Sài Gòn v.v... vào khoảng cuối năm 1946, Trí Quang trở về Diêm Điền, để giữ chức chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Bình.

Đến năm 1947, Trí Quang hoạt động cùng một tổ với hai cán bộ nội thành của CSVM, tên Nguyễn Toại (còn gọi là Toại Béo), ở Đồng Đình, và Nguyễn Tịch ở Đồng Phú. Chẳng bao lâu sau, cũng trong năm 1947, Trí Quang, Toại Béo, và Nguyễn Tịch đều bị Phòng Nhì Pháp theo dõi bắt trọn ổ. Lần này, Trí Quang và Nguyễn Tịch đã bị giam ở Trạm Thiên Văn Tam Tòa. Ít lâu sau Trí Quang cũng đã được Pháp trả tự do. Nhưng sau khi được trả tự do ít lâu, Trí Quang lại bị Phòng Nhì của Tây bắt lần nữa, vì tội vẫn còn tiếp tục hoạt động bí mật và duy trì liên lạc với các cán bộ CSVM. Sau một thời gian bị giam, Trí Quang đã được một viên chức bảo hộ của Pháp ở Huế bảo lãnh. Lần này Trí Quang đã phải làm tờ cam kết không hoạt động cho CSVM nữa. Sở dĩ Trí Quang được viên chức bảo hộ Pháp đứng ra bảo lãnh là do đức Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, thân mẫu của Vua Bảo Đại, đã nghe lời xin của An Nam Phật Học mà đứng ra yêu cầu chính quyền Pháp tha cho Trí Quang.

Thời Mạt Pháp - Trọng Tín

Gần đây có hiên tượng một số kẻ tự vỗ ngực là phật tử, nào là Cư Sĩ, Tăng, Ni bắt đầu hô hoán lên cái gọi là “thời pháp nạn” và vì lấy lý do đó để ra sức kêu gào cái gọi là “Chấn Hưng Phật Giáo”. Tại sao Phật Giáo lại phải Chấn Hưng? Mà Phật Giáo quan trọng đến như thế nào mà phải Chấn Hưng? Hơn nữa Chấn Hưng Phật Giáo là Chấn Hưng cái gì? Sửa lại giáo lý nhà Phật? Hay xây thêm chùa cho to? Hoặc trao cho mấy người tu hành thêm quyền lực? Chẳng hiểu là vì triết lý của nhà Phật nó cao siêu quá đến nỗi không ai có thể hiểu được cái huyền diệu của nó hay là nó đã bị làm cho cố tình để không ai có thể hiểu được cho nên những kẻ tu hành càng ngày càng xa rời lời Phật dạy. Thiết nghĩ hoàng tử Siddhārtha Gautama (Tất-đạt-đa Cồ-đàm) bỏ hết cả cung vàng điện ngọc, tự ép mình vào chốn khổ ải để rèn luyện tìm cho ra được cách tự giải thoát cho mình và cũng là để cứu chúng sinh, tất nhiên phải tìm cách diễn đạt để tư tưởng của mình truyền đạt lại được cho hậu thế. Ấy vậy mà cho đến nay, những người phật tử đều phải ngồi nghe những người tự xưng là thượng tọa, hòa thượng giảng đạo mà họ vẫn chẳng thể nào hiểu được cách nào được giải thoát? Có lẽ những điều người ta biết về Phật Giáo là có những kẻ đầu cạo trọc, khoác áo cà sa, ăn chay, rồi tụng kinh niệm Phật.
Quang Do Ram Rau giong HCMVề cách ăn chay, cạo đầu, mặc áo cà sa thì có thể hiểu được đó là cách ép xác để tự diệt dục. Nhưng còn tụng kinh thì thực sự mới là kỳ lạ. Trong hầu hết các tôn giáo đều có một triết lý chung nhất đó là quan niệm rằng có một đấng tối cao toàn năng có thể giải thoát cho con người khỏi những đau khổ. Hình thức tụng kinh ở đạo Phật cũng như cầu nguyện ở Thiên Chúa Giáo đó là 1 hình thức để giao tiếp với thế giới tâm linh. Nếu như ở Thiên Chúa Giáo, người cầu nguyện nói bằng ngôn ngữ mà họ và những người cùng cầu nguyện có thể hiểu được thì ở Phật Giáo chẳng có ai có thể hiểu được người tụng kinh đang nói cái gì? Nếu gốc của đức Phật là người Ấn Độ thì muốn giao tiếp với đức Phật có lẽ phải nói bằng tiếng Hindu, hoặc nếu là giao tiếp với tiền nhân nước Việt thì phải nói tiếng Việt. Cứ nghe những buổi cầu kinh, niệm phật từ trong chùa đến các đám ma chay thì thấy, có lẽ ngay chính người tụng kinh cũng chẳng biết mình đang nói cái cóc khô gì? hay là họ đang nói với tà ma, quái vật?. Như vậy thì đạo Phật sinh ra để làm gì, nếu như nó cố tình làm cho những người muốn theo nó không hiểu?
Thực ra có lẽ đức Phật hy sinh vinh hoa phú quý chắc chắn không phải để nói vài câu làm nhảm để người khác không thể hiểu được. Chỉ có điều các tông đồ của Ngài đã lợi dụng hình ảnh hy sinh cao quý của Ngài để mưu cầu vinh quang cho riêng họ, vì vậy càng ít người hiểu rõ được giáo lý của Ngài thì càng tốt. Bởi thế, xuất phát từ một tư tưởng tốt đẹp, Phật Giáo đã dần biến thành 1 thứ dị đoan, mà người theo nó chỉ được nghe lời Phật từ miệng của những kẻ khoác áo tu hành và kết cục là những phật tử đã dần bị lẫn lộn giữa những lời của Phật hay là những lời của kẻ tu hành ấn vào miệng Phật cũng như nhầm tưởng rằng những kẻ tu hành là Phật. Cũng từ 1 miệng Phật, nhưng ở Việt Nam có đủ các hệ phái nào Nam Tông, nào Bắc Tông, nào Nguyên Thủy, nào Tiểu Thừa nào Đại Thừa không biết sau này có thêm hệ phái … Ruột Thừa nữa không?
Chính vì tôn giáo đã bị lợi dụng để biến thành công cụ nô dịch con người về hệ tư tưởng nên ở mọi hình thái xã hội đã bắt đầu xuất hiện giới tu hành, tăng lữ. Nếu ai là phật tử thì đều biết câu “thứ nhất là tu tại gia, thứ 2 tu chợ, thứ 3 tu chùa” nói như vậy có nghĩa là nếu phải vào chùa mới tu được thì có nghĩa đó là hạng vét đĩa nhất. Vậy mà chẳng hiểu làm sao người ta cứ phải gọi mấy người cạo đầu mặc áo cà sa là Thầy hoăc Sư? Hơn nữa đi tu hành nghĩa là tự rèn luyện để tự mình thoát được những cám dỗ tầm thường tức là tự cứu lấy bản thân, ấy vậy mà những kẻ tu hành đa số là sống bằng tiền “cúng dường”, “công đức” như vậy là thế nào? Tự mình còn không nuôi nổi mình phải trông chờ nơi bá tánh thì chỉ là kẻ ăn bám chứ làm sao mà tự giải thoát được bản thân và còn đảm đương sứ mạng cứu vớt các sinh linh khác? Tức là những kẻ tu hành hiện nay đã làm ngược với giáo lý của nhà Phật.

Theo như triết lý của nhà Phật thì sở dĩ con người gặp phải cảnh khổ đau trong cuộc đời đó là vì họ có quá nhiều dục vọng. Một trong những điều dục vọng ấy mà Phật đã tổng kết đó là “Sở cầu bất đắc” nghĩa là vì ham muốn mà không đạt được thì lấy làm đau khổ. Ấy vậy mà ai đi tu không muốn được làm Tăng Thống như ông râu rậm Thích Quảng Độ, làm thượng tọa như thằng Việt Gian Thích Trí Quang, hay Hòa Thượng mặc quần xì líp như Thích Chánh Lạc??? Như vậy nghĩa là họ vẫn còn nguyên vẹn cái dục vọng đó, nếu không muốn nói là nó còn cao hơn nhiều rất nhiều những phật tử tầm thường khác. Như vậy những kẽ cạo đầu mặc áo cà sa là những người làm theo lời Phật?





Ai cũng biết rằng năm 1963, khi đất nước đang chiến tranh loạn lạc. Chính phủ của tổng thống Ngô Đình Diệm đã hết sức bảo toàn độc lập của tổ quốc, hạnh phúc, tự do của người dân. Ấy vậy mà những kẻ tự xưng là người tu hành này đã ép phật tử xuống đường đòi giật sập cho được cái thể chế độc lập ấy. Không những ép các phật tử xuống đường biểu tình, bọn đầu trọc cà sa này còn mang đồng đạo ra thiêu sống để tạo nên bạo loạn. Sau khi chế độ của Ngô tổng thống bị sụp đổ, những tên đầu trọc này còn quấy phá nhiều chính phủ cho đến khi miền Nam thực sự rơi vào tay bọn giặc thì chúng mới thỏa mãn. Tiêu biểu của những đợt quấy phá của những tên đầu trọc này là vụ tiếp tay chỉ điểm cho VGCS thủ tiêu, thảm sát cả ngàn sinh mạng vô tội vào dịp tết Mậu Thân đẫm máu. Không những thực hiện nhiệm vụ chỉ điểm, chúng còn mở pháp trường ngay tại chùa, biến chùa đền thành nơi cất giấu vũ khí giúp cho bọn sát nhân vấy máu đồng bào.
Sau ngày đất nước bị tan hoang, đồng bào bi áp bức đến tận cùng nơi địa ngục, người ta đã phải mạo hiểm cả của cải, sinh mạng để tìm đường đến với tự do mong được quyền làm người, thì đám đầu trọc cà sa này vẫn không chịu buông tha họ. Bằng nhiều con đường những thằng đầu trọc này đã tìm cách ra Hải Ngoại trót lọt để bắt đầu thực hiện kế hoạch biến Đảng thành Đạo, đưa Phật Giáo trở thành 1 công cụ nô dịch tinh thần đối với toàn bộ người Việt từ trong nước ra đến Hải Ngoại. Từ Hải Ngoại những chuyện quyên góp gây quỹ xây chùa, đưa các tăng ni từ trong nước ra Hải Ngoại để khuyếch trương thanh thế ngày càng được mở rộng. Với số lượng tăng ngày một đông các tăng ni, VGCS đã đặt kế hoạch để nghị quyết 36, chương trình hòa hợp hòa giải, được thực hiện 1 cách êm thấm, tinh vi, và làm cho con mồi là những người Việt Tỵ Nạn VGCS không biết được rằng mình đang biến thành Việt Kiều của chúng. Phật Giáo vốn có 1 hệ thống hết sức lỏng lẻo, hơn nữa VGCS đã có lịch sử lâu dài mượn chiếc áo cà sa để che đậy bộ mặt khát máu của chúng. Như vậy, những tên đầu trọc hiện nay đang tác oai tác quái ở Hải Ngoại nếu không phải là những thằng công an cạo đầu, thì cũng là những tay sai tuyên vận của VGCS.\
Quảng Độ lôi Phật – Pháp dính vào … hai thùng phước sương “Cúng dường Tam Bảo”! Phật- Pháp nào xài tiền cúng dường ?
3246443383_cb2c2b08eeSở dĩ tại Hải Ngoại có những chuyện như những thằng họ thích làm chuyện bậy bạ, bị đưa lên báo chí và ngay cả bị tố cáo ra tòa là bởi vì chúng hoàn toàn không phải là người tu hành. Chính vì chỉ mượn chiếc áo thầy tu, nên mới có chuyện Thích Trí Quang chơi gái như cơm bữa, Thích Đôn Hậu có tình nhân là Tuần Chi, Thích Quảng Độ thì để tóc nuôi râu, Thích Không Tánh thì thuê khách sạn để tính chuyện thông dâm, Thích Chánh Lạc thì ấu dâm với cả 2 chị em tuổi vị thành niên, Thích Giác Đẳng, Thích Hộ Giác thì vay tiền xây chùa rồi quỵt luôn không trả vv…
Người ta nói lúc này là Thời Mạt Pháp, quả đúng như vậy. Chỉ có thời mạt pháp nên mới có chuyện người tu hành mặc áo cà sa đi tiếp tay bọn sát nhân, diệt chủng để tiêu diệt đồng bào mình. Chỉ có thời mạt pháp, nên mới có chuyện người tu hành vẫn có vợ có con, vẫn nhân tình cặp kè không những vậy còn leo đến Tăng Thống, Thượng Tọa, Hòa Thượng. Chỉ có thời mạt pháp nên mới có kẻ tu hành đi vay tiền để xây chùa, bởi vì chắc hẳn chùa là nơi kinh doanh để mang lại lợi nhuận nên xây chùa mới được coi là đầu tư sinh lời. Chỉ có thời mạt pháp nên các phật tử mới năm cha bảy mẹ. Chỉ có thời mạt pháp nên mới có chuyện Cư Sĩ Chấn Hưng Phật Giáo đê đầu đảnh lễ 1 thằng hiếp dâm người ở tuổi vị thành niên. Chỉ có thời mạt pháp nên thằng rậm râu được tôn xưng là “thánh tăng”. Cũng chỉ có thời mạt pháp nên bà mẹ nhìn thấy bọn dâm tăng đè con mình ra chơi giữa ban ngày, biết mà phải dập đầu xin xám hối. Thi hào Nguyễn Trãi có câu rằng:
Càn khôn bĩ rồi lại thái.
Nhật nguyệt hối rồi lại minh”
Các triều đại trước trong lịch sử đều như vậy, nhưng có lẽ vào thời điểm này nước Nam ta chỉ có “bĩ” mà không “thái”, chỉ có “hối” mà chẳng “minh”, nên đã hơn 40 năm trôi qua mà Pháp Mạt vẫn hoàn Mạt Pháp.
Trọng Tín ( Kyoto ) 










Nghị quyết 36 tôn giáo vận


Nghị quyết 36 tôn giáo vận

Năm 2004 tập đoàn lãnh đạo CSVN, ban hành “nghị quyết 36”, nhằm mục đích, kiểm soát toàn bộ người Việt nơi hải ngoại. Trong đó đa số là nạn nhân tỵ nạn cộng sản và cùng những người thân.

Tuy chúng “triển khai nghị quyết” rầm rộ, ồn ào với các kế hoạch nào là: văn hoá vận, kiều vận, truyền thông vận, thương mại, kiều hối,tôn giáo vận…. Đa số chúng điều thất bại, bởi vì tập thể nạn nhân tỵ nạn CS sống nơi hải ngoại đều vạch mặt của bọn Việt gian, dù chúng đầy mưu mô xảo quyết ẩn núp dưới nhiều hình thức, lợi dụng tất cả những mưu mô xảo quyệt nhất chúng cũng đều bị vạch mặt chỉ tên.Duy chỉ có hai kế hoạch trong “nghị quyết” là CSVN thành công đó là “kiều hối và tôn giáo vận
-Kiều hối, như tất cả những ai quan tâm đến thời cuộc, đều biết rằng mổi năm người Việt lưu vong khắp năm châu bốn bể, gồm cả những người xuất cảng lao động, lao nô, trồng cần sa, buôn ma tuý, hành nghề mại dâm… gởi về VN hơn 10 tỷ đô la. Một số tiền không nhỏ, để nuôi sống chế độ độc tài, tham nhũng cho tới ngày hôm nay.

-Tôn giáo vận (TGV) tập đoàn đầu lãnh CSVN, rất quan tâm ưu ái đến “tôn giáo vận” chúng thành công vượt bực.Vì trong thời gian chiến tranh từ 1945 đến 30-4-75 những tên VC đầu trọc áo vàng, áo nâu, nằm vùng, núp dưới những mái chùa nằm khắp các tỉnh, từ vĩ tuyến 17 đến tận Cà Mau và cả hải ngoại, một số lượng bọn đầu trọc, đánh phá, tiêu diệt hai nền đệ nhị VNCH. Điều đó chúng ta đã thấy rỏ hơn ban ngày, “giấy không gói được lửa, cây kim không dấu lâu trong bọc vải”. Mà cũng không phải, người Việt chân chính chúng ta vu oan giá họa cho bọn VGCS núp dưới danh từ Phật Giáo.


Bởi vì nguyên lý của Phật Giáo “Đấng Thế Tôn “ luôn dạy Phật tử và chúng sanh: từ bi, hỷ xả, để đạt đến chân, thiện, mỹ. Đức Phật thường khuyên bảo đệ tử của ngài rằng “hận thù không nên giữ trong đầu quá một đêm” Phật cũng dạy “lấy ân báo oán, oán tiêu tan, lấy thù báo oán,oán chập chồng như núi Thái Sơn… không đời kiếp nào hết…” Chỉ có bọn Ma Tăng mới lưu thù chuốc oán trên 50 năm qua dưới danh từ “PHÁP NẠN”, Bọn Ma Tăng đã được đào tạo dưới mài trường công an của chế độ CSVN mổi năm huấn luyện hoàn thành 2000 tân công an đầu trọc tung ra từ quốc nội tới hải ngoại để hoạt động, đó là điều có thật 100/100.

Kẻ hèn này rất ghét chụp mũ, vì cũng là nạn nhân của sự chụp mũ, nhưng qua, những buổi lễ Ma Tăng tổ chức “kỷ niệm 50 năm pháp nạn…” là nằm trong “tôn Gáo Vận của Nghị quyết 36” rỏ như ban ngày, chỉ có những thành phần được huấn luyện thuần thục, trong trường đào tại gián điệp, mới tổ chức tinh vi như vậy với những bằng chứng hiển nhiên. Điều 3 của nghị quyết:

“3- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.” (ngưng trích)

Theo nghị quyết thì các tổ chức ở “nước ngoài phải đồng bộ…” nghĩa là trong nước VC tổ chức những gì thì hải ngoại cũng rập khuôn theo như đúc. VC xây lăng cho ông Sư Thích Quảng Đức thì tại Úc Châu vùng Fawkner cũng có một cung điện của Sư Thích Quảng Đức… Trong dịp lễ “50 năm pháp nạn” trong nứơc VC tổ chức hình thức thế nào thì ở Úc Châu, Hoa kỳ… cũng “đồng bộ” hình thức nội dung, trang trí, trình bày , diễn văn … giống nhau như cặp song sinh.Trải qua kinh nghiệm thương đau của sự sụp đổ của VNCH, chúng ta đã thấy hiển nhiên những tên siêu điệp viên hoạt động trong guồng máy chính quyền miền Nam, một số tên như: Vũ Ngọc Nhạ, Triệu Quốc Mạnh, Nguyền Thành Trung (phi công)… Những tên này vẫn chào cờ vàng ba sọc đỏ thường nhật, chưa bao giờ hô đả đảo Mỹ Ngụy…

Bọn Ma Tăng trong ban tổ chức “Lễ kỷ niệm 50 năm pháp nạn” nơi hải ngoại cũng đã được huấn luyện thuần thục của những tên siêu điệp viên mà chúng sử dụng tuyệt chiêu là dùng báu vật thiêng liên cao quý nhất, là cá cờ vàng biểu tượng của hồn thiêng sông núi của chính nghĩa Quốc gia, cũng như những ông bà Tiến Sĩ, Đốc Sự, công chức cao cấp của VNCH để đứng lên đấu tố chính quyền miền Nam; tuyệt chiêu quá độc, độc hơn vịt xiêm lai “dùng củi đậu nấu đậu” dùng lực lượng công chức, trí thức…của VNCH để đánh VNCH.Chỉ có những bọn ma tăng đã được “thép đã trôi thế đấy” mới có được mưu cao chước quỷ này.

Hởi các Ma Tăng trong BTC lễ đấu tố VNCH vừa qua hãy chuẩn bị tổ chức lễ “Kỷ niệm 50 năm pháp nạn” cho năm 2006 vì “pháp nạn” năm 1966 nó quyết liệt hơn, vì Phật Giáo Ấn Quang đã dùng âm binh để cô lập 5 tỉnh miền Trung : Quảng Ngải,Quảng Tín, Quảng Nam, Thừa Thiên và Quảng Trị. “ Mùa Pháp Nạn” này với hơn 200 sanh linh hy sinh và hơn ngàn nạn nhân bị thương tật suốt đời, vì nghe theo tiếng gọi “đấu tranh” của bọn ma tăng.Cùng để kỷ niệm 50 năm bàn thờ Phật xuống đường, đó là niềm “vinh hạnh” nhất của Ma Tăng.

Thưa các thầy, thưa các trí thức, khoa bảng công chức của VNCH hãy chấm dứt những trò ma mãnh, hãy tra lại thanh danh cho mái chùa, đã bị các ngài làm cho xú uế trong hơn 50 năm qua. Các ngài đã dùng tất cả thủ đoạn gian manh nhất để lừa gạt lòng tin, cùng đánh lừa nhân loại với câu kinh hoà bình,phản đối chiến tranh.

Không ai ghét chiến tranh bằng chúng tôi, những người lính nơi địa đầu chiến tuyến, chúng tôi cũng cùng trang lứa cùng quý ngài, chúng tôi phải đem máu xương thịt và con tim của cha mẹ sinh ra, hằng ngày đêm ghìm tay súng ngăn chận làng sóng xâm lăng từ bọn đầu lãnh cộng sản Bắc Việt.

Không ai ghét chiến tranh bằng bố mẹ tôi hằng đêm trông xác con về, không ai căm thù chiến tranh bằng vợ người lính VNCH với vành khăn tang khóc than bên mộ chồng, không ai ghét chiến tranh bằng những đứa trẻ coi cút mất cha với vành khăn tang trắng xoá.

Không ai ghét chiến tranh bằng thân nhân của những nạn nhân Tết Mậu Thân, đại lộ Kinh Hoàng, mùa hè đỏ lửa, cuộc tháo chạy khỏi cao nguyên… Không ai ghét chiến tranh bằng người thường dân vô tội chết trên những chuyến xe đò bị VC đặt mìn trên các quốc lộ tỉnh lộ miền Nam…

Thưa các thầy cùng các nhà trí thức dù có ngu đần đến đâu cũng nhận biết rằng cuộc chiến Quốc,Cộng khởi động từ tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Trong lúc chiến tranh xâm lược của CSBV các thầy và các ngài ở đâu ? Câu kinh hoà bình mà các thầy, các ngài đã và đang đọc trên các tỉnh thành phía Nam ! sao lại vắng tanh không thấy tiếng kinh hoà bình của các thầy trên đường phố Hà Nội cùng các tỉnh phía Bắc, Bắc kinh, Mạc Tư Khoa… ???

Bên sau tiếng kinh hoà bình, trong áo Cà Sa của các thầy của các thầy là những con dao nhọn có tẩm thuốc độc để đâm vào Quân, Cán, Chính VNCH những nhát dao chí mạng.

Nghiệp của các thầy và đám trí thực VNCH còn quá nặng, chính quyền mất bao nhiêu tai ương đến cho dân tộc, chúng tôi bồng bế dắt nhau chạy ra hải ngoại làm kiếp lưu vong. Các thầy cũng không tha tiếp tục kinh hoà bình và dao tẩm thuốc độc đem ra hải ngoại đâm tiếp, “lưng lính tại sao chùa cứ lụi hoài”

Lễ “kỷ niệm 50 năm pháp nạn “ là triển khai Tôn Giáo Vận của các thày thành công tốt đẹp… chúc các thầy viên mãn…Võ Long Ẩn
Úc Châu